Thấm thoát đã 51 năm.
Năm mươi mốt mùa tháng Tư đi qua, ngày 30/4 đã trở thành dấu son thiêng liêng của dân tộc – ngày đất nước ngập tràn cờ hoa, nắng vàng; ngày của nụ cười hòa trong nước mắt; ngày đoàn tụ và ngân vang những khúc ca bất tử. Đó là ngày non sông vỡ òa trong niềm vui toàn thắng, khi khát vọng hòa bình của cả một dân tộc được đền đáp.
Hòa bình – hai tiếng giản dị mà thiêng liêng biết bao.
Khi tiếng súng lặng im trên khắp mọi miền, khi đất nước thôi oằn mình sau bao nhiêu năm binh lửa… ta mới thấm thía hết giá trị của sự sống, của những ngày bình yên hôm nay.
Để có ngày 30/4 lịch sử, biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống.
Dân tộc ta đã đi qua những chặng đường đầy bão lửa, những bước ngoặt khốc liệt, đánh đổi bằng máu xương và nước mắt.
Để có ngày cờ hoa rực rỡ hôm nay, hàng triệu người lính đã nằm lại dọc chiều dài đất nước: từ Địa đạo Củ Chi, Mậu Thân 1968, đến 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị đỏ lửa; từ những cánh rừng Trường Sơn hun hút đến 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.
Máu đã đổ không chỉ nơi chiến trường mà cả trên những cánh đồng. Hạt gạo nuôi quân cũng thấm mồ hôi và máu của mẹ, của em.
Hàng vạn ngôi mộ không tên trong các nghĩa trang – là hàng vạn người con đất Việt đã hóa thân vào đất mẹ để Tổ quốc hôm nay bừng sáng.
Ngay trước giờ toàn thắng, vẫn có những người lính ngã xuống nơi cửa ngõ Sài Gòn, để tên mình hóa thành tên đất nước.
Đã 51 năm đất nước thống nhất.
Nhưng cứ mỗi độ tháng Tư về, những người lính năm xưa lại tìm về bên nhau. Họ gặp lại nhau trong niềm vui, trong những cái bắt tay run run, trong ký ức không thể phai mờ của một thời lửa đạn – nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc.
Họ nhắc về đồng đội – những người mãi mãi không trở về, những người “sống mãi tuổi hai mươi”.
Tuổi đã xế chiều, tóc đã bạc, họ tự hỏi: còn gặp nhau được bao lần nữa?
Vẫn cười đấy… mà mắt rưng rưng.
Bởi đâu đó giữa rừng sâu, khe núi, vẫn còn đồng đội chưa tìm được đường về. Bởi có những phần xương thịt đã hòa vào lòng đất mẹ, không còn hình hài để nhận diện.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi đau thì vẫn còn đó.
Là những bà mẹ nửa thế kỷ mòn mỏi chờ con.
Là những người vợ tảo tần nuôi con trong thiếu thốn, đợi chồng trong vô vọng – có người trở về trên đôi nạng gỗ, có người không bao giờ trở lại.
Là những người lính mang thương tật suốt đời, những đôi mắt không còn thấy ánh sáng, những cánh tay không còn ôm trọn được người thân trong ngày đoàn tụ.
Là những đứa trẻ mang di chứng chất độc da cam – lớn lên mà không bao giờ trọn vẹn làm một con người bình thường.
Có những người bạn, ở tuổi bảy mươi vẫn đau đáu một câu hỏi:
“Rồi mình đi, ai sẽ lo cho con mình đây?”
Hòa bình lập lại, những người lính trở về.
Họ bỏ lại phía sau cả một thời tuổi trẻ nơi chiến trường, trở về với ruộng đồng, với cuộc sống còn nhiều nhọc nhằn.
Đêm nằm, vẫn thao thức nhớ những tháng ngày cầm súng.
Giữa phố phường sáng đèn hôm nay, có lúc lòng họ chộn rộn – vui đấy, mà cũng trăn trở đấy, khi nhìn thấy những điều chưa trọn vẹn của cuộc đời.
Tháng Tư…
Đồng đội ơi, hãy tạm gác lại những nỗi niềm riêng. Hãy nhớ về khoảnh khắc thiêng liêng khi lá cờ Tổ quốc tung bay trên nóc Dinh Độc Lập – khoảnh khắc mà cả cuộc đời người lính đã đi qua để chạm tới.
Hãy cùng nhau sống lại những tháng ngày đã sống – những cánh rừng, dòng sông, những đêm mưa bom, những chiều bão đạn – để thêm một lần nhắc nhau vững vàng bước tiếp.
Hãy nghĩ về một Việt Nam hòa bình, thống nhất, đang đổi mới từng ngày.
Hãy tự hào vì trong hành trình ấy, có phần máu xương, có phần tuổi trẻ của chúng ta.
Năm 1988, rời quân ngũ, tôi đã viết:
“Chiến tranh như cơn bão dài,
Thổi qua mái tóc con trai bạc dần.
Nghĩ thương khẩu súng ân cần,
Đã cầm tay, lại đến lần cháu con.
Nghĩ thương đôi dép vẹt mòn,
Đi qua chiến thắng vẫn còn chiến tranh…”
Tháng Tư này…
Xin được lặng lòng.
Xin được nhớ.
Và nhớ mãi.
Đồng đội ơi…
Bùi Quốc Hoằng
Cựu chiến binh Thành cổ Quảng Trị






.jpg)


.jpg)


.jpg)

Bình luận